+84 (0) 932108534

"Tám" chuyện ARV - Kì II: Tác dụng phụ của ARV

19 tháng 9 2017 Blogs
Share on FacebookShare on Google+Tweet about this on TwitterShare on LinkedInPin on PinterestShare on TumblrEmail this to someone
Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước, có rất nhiều bệnh nhân HIV tự điều trị bên ngoài và trả tiền để mua thuốc nhằm được dịch vụ riêng tư và phục vụ tốt hơn. Tuy nhiên mặc dù các hướng dẫn của bác sĩ là cần thiết và tương đối đầy đủ cho bệnh nhân, không có nghĩa là họ đủ thời gian để quan tâm mọi vấn đề lo lắng của bện nhân. Khi bắt đầu điều trị ARV, hầu hết tất cả bệnh nhân đều “hoang mang” về các tác dụng phụ của thuốc.

“Tám” chuyện ARV kì thứ 2 sẽ trình bày tổng hợp những tác dụng phụ của thuốc ARV phác đồ 1F (gồm 3 thành phần: Tenofovir disoproxil (TDF) + Lamivudine (3TC) + Efavirenz (EFV)), và chỉ ra đâu là những tác dụng phụ thường gặp và khi nào dấu hiệu tác dụng phụ cần phải được thông báo ngay với bác sĩ. Và ở tất cả các kì, chúng tôi đều khuyến cáo bệnh nhân đang tự điều trị HIV bên ngoài tìm hiểu về phòng khám tư nhân đầu tiên và duy nhất hiện nay được cấp phép chính thức, hợp pháp được khám, chữa bệnh HIV – phòng khám G-link Việt Nam ngụ tại địa chỉ 163/15/6 Tô Hiến Thành phường 13, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Hai hộp thuốc ARV phác đồ 1F của hai công ty dược khác nhau, đang bán tại phòng khám G-link.

Phác đồ 1F là phác đồ ưu tiên cho tất cả các bệnh nhân điều trị HIV tại Việt Nam, bao gồm cả điều trị tại các bệnh viện công và tư, do giá thành rẻ, ít tác dụng phụ, tác dụng phụ ngắn hạn và không di chứng với đa số bệnh nhân. Khi và chỉ khi bệnh nhân thất bại điều trị với phác đồ 1F (do không tuân thủ điều trị/vi-rút kháng thuốc) hoặc dị ứng với bất kì thành phần nào trong thuốc, thì mới sử dụng phác đồ thay thế và sẽ được chỉ dẫn rất cụ thể của bác sĩ điều trị.

Sau đây là các tác dụng phụ không cần điều trị (tự khỏi) của phác đồ 1F:
Ít gặp
: thiếu hoặc mất sức; đánh rắm (trung tiện); giảm cân.
Hiếm gặp: acid hoặc chua dạy dày; đau lưng; ợ, ợ nóng; khó khăn khi di chuyển; chán nản; cảm thấy buồn hoặc trống rỗng; ho nhiều; sưng khớp, đau khớp; mất hứng thú hoặc niềm vui; cơ đau hoặc căng cứng; sổ mũi, nghẹt mũi; đau dạ dày; đổ mồ hôi; mệt mỏi; khó tập trung; khó ngủ.

Trong trường hợp các tác dụng phụ nêu trên kéo dài hoặc trở nặng nên liên hệ với bác sĩ ngay để có xử lý kịp thời. Đồng thời, các tác dụng phụ có thể cần điều trị dưới đây cũng chỉ nên được thông báo với bác sĩ:
Ít gặp:
 phồng rộp dưới da; phát ban có hoặc không có những đốm nhỏ trên da; da tấy đỏ; da ngứa, nổi mề đay, hoặc có vết sưng; những chấm trên da giống như vết phồng rộp hoặc mụn trứng cá.
Hiếm gặp: thay đổi thị lực; nóng rát vùng mặt hoặc miệng; cảm giác nóng rát, sởn gai ốc, ngứa ngáy, đau đớn, tê cóng, kiến bò, bị “kim châm” hoặc ngứa ran trong lòng bàn tay, cánh tay, bàn chân hoặc cẳng chân; đau vùng ngực; tay chân bủn rủn, vụng về, không đứng vững; hắt hơi; đau họng; các cơn đau nhói.

Lưu ý: tất cả các tác dụng phụ nêu trên cũng có thể xảy ra đối với người sử dụng thuốc PrEP hoặc PEP hai thành phần (Emtricitabine + TDF).